Home Ôtô Mitsubishi Mirage

Mitsubishi Mirage

by XEtv.vn Official
Mitsubishi Mirage Facelift 2019

Mitsubishi Mirage

Mitsubishi Mirage là mẫu xe du lịch cỡ nhỏ dẫn động cầu trước được Mitsubishi chế tạo trong giai đoạn 1978 – 2003 và được giới thiệu trở lại vào năm 2012. Mẫu Mirage hiện hành được chế tạo tại Thái Lan.

Nhãn hiệu Mirage được sử dụng cho năm thế hệ đầu tiên của mẫu xe này tại Thị trường trong nước & Thị trường Mỹ (trừ thế hệ thứ nhất). Mặc dù thế, tại các Thị trường khác, tên gọi Mitsubishi Colt và Mitsubishi Lancer cho phiên bản Sedan được sử dụng thoáng rộng.

Năm 2003, Mirage và các phiên bản của nó được ngừng sản xuất tại Nhật Bản & được thay thế bởi Mitsubishi Lancer (2000 – 2007) và Mitsubishi Colt (2002 – 2012). Sau thời gian bị ngăn cách, Mitsubishi ra quyết định hồi sinh nhãn hiệu Mirage với thế hệ thứ sáu hoàn toàn mới ra mắt tại Triển lãm ô tô Tokyo 2011.

Mitsubishi Mirage là 1 trong những dòng xe có khá nhiều chiếc tên tinh vi và được bán ở nhiều Thị trường. Sự phân cấp của dòng xe này để cho nó có 1 loạt những phiên bản khác nhau, nhiều chủng loại mà không phải người nào cũng sành sỏi. Mirage được đặt tên cho 5 thế hệ tại Nhật Bản & đời đầu tiên tại Mỹ. Mặc dù thế, các thị trường khác sử dụng chiếc tên Mitsubishi Colt & các phiên bản của chiếc Mirage đã được bán ra rộng rãi dưới tên gọi là Mitsubishi Lancer tại Nhật Bản, nơi hai nhà bán lẻ cùng hoạt động với nhau. Tại Nhật Bản, Mirage đã được bán tại một chuỗi kinh doanh bán lẻ cụ thể có tên Car Plaza .

Tuy nhiên, khi DaimlerChrysler kiểm soát và điều hành nhanh chóng Mitsubishi thông qua liên minh DaimlerChrysler-Mitsubishitừ năm 2000 đến năm 2004, giấy phép cho tên “Lancer” đã được giao lại cho Mitsubishi để sử dụng ở Bắc Mỹ. Do đó, sau Mirage thế hệ thứ năm & cuối cùng, các mẫu thay thế ở Bắc Mỹ đã áp dụng tên mới. Tại Hoa Kỳ và Canada, bốn thế hệ thứ nhất đã được bán thông qua một liên kết kinh doanh với Chrysler là Dodge Colt & Champ & Colt tương tự như Plymouth. Sau đó, liên doanh này đã mang các thương hiệu Eagle Vista & Summit được bán cùng với những điều đã nói ở trên.

Một cách khó hiểu, Chrysler cũng đã cung cấp một mẫu Dodge Lancer không liên quan ở các giai đoạn khác nhau trong số những năm 1950 và 1980. Mặc dù vậy, khi DaimlerChrysler kiểm soát và điều hành nhanh chóng Mitsubishi thông qua liên minh DaimlerChrysler-Mitsubishitừ năm 2000 đến năm 2004, giấy phép cho tên “Lancer” đã được giao lại cho Mitsubishi để sử dụng ở Bắc Mỹ. Do đó, sau Mirage thế hệ thứ năm & sau cùng, các mẫu thay thế ở Bắc Mỹ đã áp dụng tên mới.

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ I (1978 – 1982)

Mirage rất nổi bật với hệ thống treo độc lập bốn bánh cộng với phanh đĩa trước. Công suất ban đầu được đến từ động cơ 1.2 & 1.4. Quan trọng nhất, phiên bản 1410 cc có hệ thống “chuyển vị điều biến” rất có thể tắt xi lanh trong điều kiện nhàn hạ để giảm mức tiêu thụ nhiên liệu. Mitsubishi đã bổ sung động cơ Saturn 1.6 lít mạnh hơn trong thời điểm tháng 3 năm 1979, cho mẫu 1600 GT.

Một phiên bản tăng áp 105 PS (77 kW) Thể Thao hơn của động cơ 1,4 lít đã được cung cấp tại Nhật Bản từ thời điểm tháng 9 năm 1982 với tên thường gọi 1400 GT Turbo. Được gắn Bộ tăng áp nhỏ, do chính hãng sản xuất của Mitsubishi. Động cơ được trang bị chip cảm biến (Knock Sensor), cho khả năng vận hành trên các dòng nhiên liệu có chỉ số octan khác nhau.

Mitsubishi Mirage Facelift 1982

Trong thời điểm tháng hai năm 1982, Mitsubishi đã làm mới Mirage. Được phân biệt bằng cách lắp đặt cụm đèn pha phù hợp với bộ phận lan rộng ra vào tấm chắn bùn , các người tạo mẫu cũng thiết kế một lưới tản nhiệt mới. Các cụm đèn hậu lớn hơn, động cơ mới & gắn kết truyền động được trang bị mới nhẹ hơn & cứng hơn đã đượcphát triển. Bảng điều khiển cũng được update, với các nút xoay được gắn trong khoảng với của ngón tay cho những chức năng ánh sáng đèn & gạt nước. Đồng thời với phiên bản facelift này, Mitsubishi đã giới thiệu một phiên bản xe bốn cửa đến Nhật Bản dưới tên Mirage và Lancer Fiore, không bị nhầm lẫn với Lancer bình thường.

Chrysler đã nhập thế hệ Mirage này vào Bắc Mỹ với tên Dodge Colt & Plymouth Champ từ thời điểm cuối năm 1978 cho năm kiểu dáng  năm 1979. Ở dạng 3cửa chỉ cho đến năm kiểu dáng  1982 khi năm cửa được ra mắt . Tiếp đến, từ năm mẫu năm 1983, Plymouth đã nghỉ hưu Champ & cũng lấy tên Colt. Mặc dù vậy, xe hơi chậm, tăng tốc kém & chỉ đạt tốc độ nhanh nhất là 140km/h.

Lancer Fiore đã được trang bị các động cơ 1,2 & 1,4 lít, Fiore như một dòng xe có nguồn gốc Mirage, bé hơn đáng kể so với Lancer. Từ thời điểm tháng 8 năm 1982, khách hàng Nhật Bản hoàn toàn có thể lựa chọn động cơ Fiore 1400GT tăng áp mới được đặt tên theo động cơ 1,4 lít. Mitsubishi nhận biết bản 1400GT với cửa hút khí gắn trên mui xe, nội thất độc đáo và khác biệt, hệ thống treo và  cân bằng trục dẫn động. Cùng thời điểm với GT, một bản giới hạn đã tham gia, với phiên bản Super Edition và Mariee được công bố sau năm 1982.

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ II (1983 – 1987)

Mitsubishi đã công bố Mirage thế hệ thứ hai đến Nhật Bản vào năm 1983, một lần nữa phân chia phạm vi sản phẩm của Mirage (hatchback 3 & năm cửa, cộng với dòng xe bốn cửa) & Lancer Fiore (mẫu xe bốn cửa). Một bản wagon của Mirage đã được ra mắt  năm 1985, với một chiếc wagon dẫn động bốn bánh từ mùa thu năm 1986 với động cơ xăng 1,8 lít.

Nhiều Thị trường xuất khẩu đã bán những chiếc hatchback như Mirage hoặc Colt, với chiếc Lancer và wagon. Kiểu dáng Station Wagon này đã bị rất thịnh hành ngay cả với nghành dịch vụ và tư nhân ở nước ngoài cũng như ở Nhật Bản. Số Seri khung gầm của dòng C10 biểu hiện các dòng xe dẫn động cầu trước. Trong khi số sê-ri C30 dành cho các bản dẫn động bốn bánh. Động cơ đề đã được trang bị cho; động cơ xăng Orion 1,3 và 1,5 lít thay thếcác đơn vị Orion 1,2 & 1,4 lít trước đó.

Mitsubishi cũng ra mắt  các phiên bản được Trang bị động cơ xăng Sirius 1.6 và 1.8 lít , và lần đầu tiên một động cơ diesel Sirius 1,8 lít đã được ra mắt. Động cơ Sirius 1.6 lít cũng gồm 1 phiên bản tăng áp với công suất từ ​​77 mã đến 92 HP.

Chiếc xe đã nhận một phiên bản facelift rất nhẹ Vào đầu năm 1986, cùng theo với một số tùy chọn động cơ mới cho Thị trường nội địa Nhật Bản.

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ III (1987 – 1991)

Mitsubishi đã trình làng Mirage thế hệ thứ 3 với vẻ ngoài tròn trịa hơn cho Nhật Bản hồi tháng 10 năm 1987. Masaru Furukawa đứng đầu thiết kế xe, với Yasukichi Akamatsu được giao trọng trách kỹ sư trưởng. Phiên bản tiêu chuẩn là một chiếc hatchback 3 cửa với cửa hậu dựng đứng & nhiều cửa sổ lớn đã xuất hiện đầu tiên. Chiếc xe được ra mắt tại Nhật Bản trong thời điểm tháng một năm 1988 với vẻ ngoài khác biệt với kính sau gần như thẳng đứng, tường đồng với chiếc Mitsubishi Galant.

Mitsubishi vẫn kiên định với kiểu dáng trước đó cho đến khi ra mắt một toa xe mới trên khung gầm thế hệ thứ tư. Như trước đó, Mirage, Colt và Lancer đặt tên khác nhau giữa các thị trường với hình dạng cơ thể khác biệt. Tại Nhật Bản, những chiếc xe mui trần đã có mặt với chiếc tên Mirage & Lancer, Bên cạnh đó phiên bản 3 cửa chỉ được bán bên dưới dạng Mirage, và chiếc xe nâng gầm kiểu SUV là Lancer. Những chiếc xe Mirage của Nhật Bản thường có hậu tố “Vie Saloon”.

Động cơ sẵn có là bốn xi-lanh chạy xăng Orion 1,3 & 1,5 lít. Cộng với động cơ xăng Saturn 1.6 và 1.8 lít. Động cơ diesel Sirius 1,8 lít được giữ nguyên từ đời trước đó. Tại Nhật Bản, các phiên bản dẫn động bốn bánh cũng đã có mặt, được trang bị động cơ xăng 1.5 lít và động cơ xăng 1.6 lít phun xăng, hoặc diesel 1,8 lít. Những chiếc Mirages hàng đầu tại Nhật Bản được gọi là “Cyborg”, có động cơ 1.6 lít tăng áp tạo ra 107 mã lực giống với động cơ được trang bị cho chiếc xe sedan Mitsubishi GSR.

Mitsubishi Mirage Facelift 1989

Thế hệ thứ 3 đã nhận được một sự cách tân nhỏ trong thời điểm tháng 9 năm 1989, với các kiểu dáng muộn nhận được các động cơ tân tiến tương tự như thế hệ tiếp theo. Trong phiên bản tăng áp mạnh nhất, động cơ 4G61 mới sản sinh 118 Mã lực tại 6000 vòng/phút. Vì Mirages thế hệ đầu tiên vẫn được sản xuất tại Úc với tên Colt, cả 3 loại thân xe thế hệ thứ 3 đều được bán bên dưới tên Lancer trong Thị trường đó.

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ IV (1991 – 1995)

Tháng 10 năm 1991, Mirage thế hệ thứ tư xuất hiện lần thứ nhất cho Thị trường Nhật Bản cùng với Lancer. Mirage mới đã có hình dạng cơ thể tròn trịa hơn nhiều đối với thế hệ cũ. Không giống như các thế hệ trước, Lancer thị trường Nhật Bản cùng tồn tại biệt lập khi đối sánh tương quan với Mirage. Mirage với hình ảnh bên ngoài thể thao hơn và mui xe thon, khá nổi bật với đèn pha hình elip với lưới tản nhiệt rất hẹp. Các phiên bản Lancer chuyển hướng với kiểu dáng góc cạnh hơn để nhấn mạnh sự khác biệt.

Sự lựa chọn hệ thống truyền động của Mitsubishi là không nhỏ với nền tảng mới mẻ này. Hệ dẫn động cầu trước là phổ biến nhất, với hệ dẫn động tất cả các bánh có sẵn cho 1 số dòng xe. Động cơ dao động từ 1,3 đến 1,8 lít xăng hút khí tự nhiên, bản tăng áp 1.8 và 2.0 lít cùng loại, cộng với động cơ diesel 1.8 và 2.0 lít. Đáng chú ý, một phiên bản động cơ xăng V6 cũng đã được cung cấp. Động cơ bốn xi-lanh tăng áp 1,8 lít, sản sinh 145 HP.

Mitsubishi Lancer GSR 1993

Được bán bên dưới dạng “Lancer GSR” và từ tháng 9 năm 1993, đã tạo nên nên cơ sở của Lancer Evolution I sử dụng động cơ 4G63 2.0 lít từ chiếc xe đua Galant VR-4 đã mang nhiều tên tuổi trước đó. Một phiên bản chạy điện của chiếc xe được ra mắt  tới Nhật Bản mang tên là “Lancer Libero EV” & sử dụng pin cadmium Niken .

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ V (1995)

Việc ra mắt  Mirage thế hệ thứ năm tới Nhật Bản trong tháng 10 năm 1995 đã trình làng một sản phẩm là kết quả của biến đông kinh tế tài chính ở Nhật Bản vào năm 1986-1991. Ba phiên bản đầu tiên là Hatchback, xe Sedan & Coupe ra mắt sau đó 1 năm. Ngoài ra chiếc Sedan tăng kích cỡ một chút, chiếc coupé co lại 1 một chút. Nó được chuyển từ lớp subcompact sang compact ở Mỹ.

Ngoài ra chiếc Mirage trước đây được bán tại Nhật Bản có sáu cửa sổ, thiết kế lại năm 1995 đã chia sẻ kiểu dáng của nó với Lancer ngoại trừ những khác biệt nhỏ trong trang trí. So với Lancer, chúng bao gồm nắp cốp khác biệt, đèn báo rẽ phần bên trước màu hổ phách & lưới tản nhiệt được trang trí lại.

Mitsubishi Mirage Facelift 1997

Một bản facelift nhỏ đã xuất hiện vào năm 1997. Đáng chú ý, chiếc Lancer mui trần có lưới tản nhiệt mới & định hình lại các phần bên trong của cụm đèn pha để phân biệt rõ hơn với Mirage Cả hai chiếc coupé & xe Sedan đều được hưởng lợi từ cụm đèn hậu được thiết kế lại, Trong khi bản 3 cửa chỉ nhận được một cản trước được thiết kế kết hợp với lưới tản nhiệt to hơn.

Vào năm 1997, một bản truyền thống của chiếc hatchback 3 cửa Mirage đã xuất hiện tại Nhật Bản, với huy hiệu Mirage Modarc. Modarc rất nổi bật với chrome cho lưới tản nhiệt, gương, tay nắm cửa và dải cản; nó cũng bao gồm đèn sương mù và vỏ xe kim loại tổng hợp tùy chọn. Vào năm 2001, các mẫu dựa trên Mirage đã có được lưới tản nhiệt được mạ crôm ở một số Thị trường hạn chế. Lancer thế hệ này được đưa vào sản xuất tại Thị trường Trung Quốc với tên gọi Soueast Lioncel hồi tháng 3 năm 2003 & được sản xuất bởi Soueast Motors cho đến năm 2005.

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ VI (tạm ngưng, thay thế bằng Colt)

Khi Mitsubishi ra mắt một thế hệ Lancer độc lập mới vào năm 2000 (không có phiên bản Mirage tương ứng). Dòng xe cũ dựa ở trên Mirage đã bị ngừng lắp ráp tại Nhật Bản. Mặc dầu sản xuất vẫn tiếp tục xuất khẩu. Giai đoạn sau trong sự sụp đổ của Mirage là việc ra mắt của Colt.

Colt thay thế hatchback Mirage, không phải như người tiền nhiệm trươc đó, Colt khá nổi bật với thiết kế cao, thẳng đứng với khoang động cơ ngắn để tối đa hóa kích cỡ bên phía trong. Động cơ cho Colt bao gồm 1,1 lít 3 xi-lanh, cộng với động cơ xăng 1,3 lít, 1,5- và 1,6 lít với hộp số 5 cấp sàn hoặc CVT.

Việc sản xuất Colt chấm dứt vào năm 2012, với kiểu dáng kế nhiệm trở lại với tên Mirage ở trên phạm vi quốc tế. Không như kiến ​​trúc đắt tiền của Colt được chia sẻ với Smart Forfour, điểm nhấn của Mirage là giá tốt để tăng sự hiện diện của Mitsubishi tại các Thị trường mới nổi.

Mitsubishi Mirage thế hệ thứ VII (2012 – nay)

Colt đã được đổi tên thành Mirage vào năm 2012. Thế hệ thứ sáu được nhìn nhận bên dưới dạng xe ý tưởng tại Triển lãm ô tô Geneva 2011. Với những chiếc xe chế tạo đồng loạt được ra mắt tại Tokyo Motors Show 2011. Đối với một số trong những thị trường Châu Âu, tên Mitsubishi Space Star được sử dụng.

Mirage được chế tạo tại nhà máy Laem Chabang của Mitsubishi Thái Lan, cơ sở số 3 kể từ ngày 19 tháng 4 năm 2012. Chuyến hàng đến Nhật Bản đầu tiên là trong thời điểm tháng 7, với việc Úc tung ra Thị trường vào thời điểm tháng 1 năm 2013. Mitsubishi Motors Philippines đã bắt đầu lắp ráp cả hai bản hatchback & G4 của Mirage cho Thị trường nước này trong thời điểm tháng một năm 2017.

Mitsubishi Mirage Facelift 2015

Tại LA Auto Show 2015 , Mitsubishi đã ra mắt phiên bản nâng cấp 2017 của Mirage. Chiếc xe nhận có thiết kế mặt trước mới, đèn pha chiếu với đèn chạy ban ngày LED & đèn hậu LED. Trong khi, công suất động cơ được tăng từ 74 lên 78 HP. Hệ thống treo được nâng cao với trang bị giảm xóc tốt hơn, vận tốc lò xo được tinh chỉnh và điều khiển. Nội thất cũng trở nên thấy nhiều thay đổi về mặt thẩm mỹ từ vô lăng tay lái đến hệ thống HVAC. Hệ thống thông tin giải trí màn hình cảm ứng tùy chọn mới sử dụng giao diện CarPlay của Apple & cài đặt âm thanh Rockford Fosgate 300W.

Mitsubishi Mirage Facelift 2019

Mirage facelift lần thứ hai đã được công bố tại Thái Lan vào ngày 18 tháng 11 năm 2019, bổ sung các tính năng an toàn như hệ thống cảnh báo va chạm với các radar cảm biến phía trước cùng theo với các nút điều khiển hành trình Cruise Control trên vô lăng. Thiết kế cản trước của nó đã được sửa đổi để mang ngôn ngữ thiết kế của những mẫu xe khác của Mitsubishi. Cùng với cụm đèn pha chiếu với đèn chiếu sáng LED cho cả trước và sau.

Related Articles