XEtv » Tìm Hiểu » Đua xe Công thức 1: Hiểu rõ chi tiết từ A-Z

Đua xe Công thức 1: Hiểu rõ chi tiết từ A-Z

by Lê Vương Thịnh

Công thức 1 là gì?

Công thức 1 (Formula One), hay còn gọi là Thể thức 1 hay F1. Đây là một môn thể thao tốc độ chuyên về đua “ô tô bánh hở hạng cao nhất” theo định nghĩa của Liên đoàn Ô tô Quốc tế (Fédération Internationale de l’Automobile hay FIA), cơ quan quản lý thế giới về thể thao mô tô. “Công thức” trong tên gọi là để chỉ một loạt quy định mà tất cả người và xe tham gia phải tuân thủ.

Mùa giải vô địch thế giới F1 bao gồm một chuỗi các cuộc đua, được biết đến với tên Grands Prix, thường được tổ chức tại những đường đua được xây dựng riêng. Cũng có một số ít trường hợp là đua trên những con đường trong thành phố. Cuộc đua nổi tiếng nhất trong số đó là Monaco Grand Prix ở Monte Carlo. Kết quả của mỗi cuộc đua được tổng hợp lại để xác định hai Nhà vô địch Thế giới hàng năm, một dành cho tay đua và một dành cho đội đua.

Xe Công thức 1 khi đua với tốc độ cao nhất có thể lên tới 360 km/h (225 mph) với tua máy lên tới 19000 vòng một phút. Những chiếc xe này có sức kéo gấp 5 lần trọng lực tại một số khúc cua. Hiệu suất của xe phụ thuộc rất nhiều vào thiết bị điện tử, khí động lực học, hệ thống treo và bánh xe. Động cơ và hệ truyền động của một chiếc xe Công thức 1 hiện đại là một trong số những bộ phận cơ khí phải chịu áp lực lớn nhất trên mà con người đã chế tạo ra. Công thức 1 đã chứng kiến nhiều sự phát triển và thay đổi trong suốt chiều dài lịch sử của môn thể thao này.

Châu Âu là cái nôi sinh ra của thể thức đua Công thức 1. Tất cả các đội đấu đều có trụ sở tại đó và khoảng một nửa cuộc đua tổ chức tại đó. Cụ thể hơn Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland đã sản sinh ra nhiều tay đua vô địch nhất, và đại đa số đội đua vô địch. Tuy nhiên, phạm vi của môn thể thao này đã mở rộng đáng kể trong những năm gần đây và Grands Prix giờ đây được tổ chức ở khắp nơi trên thế giới.

Đua xe F1 danh tiếng

Đua xe F1 danh tiếng

Một số cuộc đua ở châu Âu dần chuyển sang các cuộc đua tại các châu lục khác. Nhất là châu Á như Bahrain, Trung Quốc, Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore đã tổ chức cuộc đua đêm đầu tiên vào năm 2008. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bắt đầu đăng cai năm 2009 và Ấn Độ đã được thêm vào lịch trình bắt đầu từ năm 2011. Trong số 19 cuộc đua vào năm 2011 (chưa kể GP Bahrain), có 9 cuộc đua là ở bên ngoài châu Âu. Và gần đây nhất là trường đua thứ 22 – Viet Nam F1 Grand Prix.

Công thức 1 là một sự kiện truyền hình lớn, với hàng triệu người theo dõi mỗi cuộc đua trên khắp thế giới. Còn là môn thể thao đắt đỏ nhất thế giới, hiệu ứng kinh tế của nó là rất rõ ràng. Những trận chiến tài chính và chính trị đã xảy ra ở nhiều nơi. Trung bình khoảng 55 triệu người trên thế giới theo dõi trực tiếp các cuộc đua Công thức 1. Lịch sử và sự phổ biến của môn thể thao này đã khiến cho nó trở thành một môi trường kinh doanh không thể phủ nhận. Điều này dẫn đến sự đầu tư “khủng” những nhà tài trợ, chuyển thành ngân sách khổng lồ dành cho các đội đua.

Vài đội đua đã phá sản hoặc bán cho công ty khác từ năm 2000. Ví dụ gần đây nhất về điều này là đội đua Super Aguri đã bị từ chối không cho tham gia Giải Grand Prix Tây Ban Nha và sau đó phải giải tán do thiếu nguồn tiền sau khi nỗ lực kêu gọi vốn tài trợ bất thành.

Môn thể thao này do FIA quản lý. Các quyền thương mại của Công thức 1 thuộc quyền sở hữu của Nhóm Công thức 1.

Lịch sử của đua xe Công thức 1

Loạt cuộc đua Công thức 1 có nguồn gốc từ giải Grand Prix (MotoGP) vào những năm 1920 và 1930. “Công thức” là một tập các quy định mà tất cả những người và xe tham gia phải tuân thủ. Giải Công thức 1 chỉ được chấp thuận sau Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1946. Với cuộc đua không tính nhà vô địch đầu tiên được tổ chức vào năm đó.

Khởi nguồn

Một số tổ chức đua xe Grand Prix đã đặt ra các luật lệ dành cho Giải vô địch thế giới từ trước chiến tranh. Nhưng do bị chiến tranh làm trì hoãn, Giải này không trở thành giải chính thức cho đến năm 1947. Cuộc đua vô địch thế giới đầu tiên được tổ chức tại Silverstone, Anh vào năm 1950. Một giải vô địch dành cho đội đua diễn ra nối tiếp sau đó vào năm 1958. Các giải vô địch quốc gia được tổ chức tại Nam Phi và Anh Quốc vào thập niên 1960 và 1970. Các cuộc đua Công thức 1 không tính chức vô địch được tổ chức trong nhiều năm nhưng do chi phí cho cuộc đua ngày càng cao, cho nên nó đã phải bị dừng lại vào năm 1983.

Đua xe F1 năm 1950

Đua xe F1 năm 1950

Những cuộc đua trở lại (1950–1958)

Nhà vô địch Giải vô địch Thế giới Công thức 1 đầu tiên là tay đua người Ý Giuseppe Farina trong chiếc Alfa Romeo trong năm 1950. Ông chỉ vừa vặn đánh bại đồng đội người Argentina Juan Manuel Fangio. Tuy nhiên Fangio đã giành lại chức vô địch các năm 1951, 1954, 1955, 1956 & 1957. Kỷ lục 5 lần giành chức vô địch thế giới của ông đã tồn tại suốt 45 năm cho đến khi tay đua người Đức Michael Schumacher giành được chức vô địch thứ 6 vào năm 2003. Mạch chiến thắng của ông bị ngắt trong 2 năm 1952 và 1953 do chấn thương, và người đoạt giải trong các năm đó là Alberto Ascari của đội đua nhà Ferrari.

Fact: Tay đua Stirling Moss cũng thường xuyên thi đấu qua nhiều mua giải, nhưng ông chưa từng bao giờ giành được một Chức vô địch Thế giới nào. Stirling được xem là tay đua vĩ đại nhất chưa từng giành được danh hiệu nào.

Khoảng thời gian này là khoảng thời gian thống trị của những đội đua do những hãng xuất xe ô tô có tiếng điều hành – Alfa Romeo, Ferrari, Mercedes Benz và Maserati. Tất cả các đội đua này đều đã thi đấu từ trước chiến tranh thế giới lần thứ II. Mùa giải đầu tiên, các đội đua sử dụng những chiếc xe trước thế chiến như 158 của Alfa. Chúng đều có động cơ được lắp ở phía trước, bánh xe có ta-lông hẹp và động cơ hút khí thông thường 4,5 L hoặc tăng áp 1,5 L.

Italian Grand Prix 1950 - Ảnh: f1.wikia.com

Italian Grand Prix 1950 – Ảnh: f1.wikia.com

Giải vô địch thế giới các năm 1952 và 1953 áp dụng quy định của Công thức 2, với những thiết kế động cơ nhỏ hơn, yếu hơn. Do lo ngại về số lượng xe hơi Công thức 1 không có nhiều trên thị trường. Khi quy định Công thức 1 mới, với động cơ giới hạn còn 2,5 L, được tái áp dụng vào năm 1954. Mercedes-Benz đã cho ra mắt chiếc W196 cải tiến. Trong đó có một số cải tiến đáng chú ý như van điều khiển vòng (desmodromic valve) và phun nhiên liệu cũng như thân xe đóng kín có hình dáng khí động thuôn hơn. Mercedes đã giành chức vô địch tay đua trong hai năm, trước khi rút ra khỏi tất cả các giải đua sau Cuộc khủng hoảng Le Mans 1955.

Những cải tiến vĩ đại (1959–1980)

Sự cải tiến lớn về công nghệ đầu tiên, đó là sự tái sản xuất các loại hơi có động cơ tầm trung của Cooper (theo sau chiếc Auto Union tiên phong của Ferdinand Porsche vào những năm 1930). Việc lấy ý tưởng từ những mẫu thiết kế Công thức 3 thành công của công ty, diễn ra vào những năm 1950. Tay đua người Úc Jack Brabham, nhà vô địch thế giới vào năm 1959, 1960 và 1966, đã nhanh chóng chứng tỏ được tính ưu việc của mẫu thiết kế mới. Đến năm 1961, tất cả những tay đua thi đấu đã chuyển sang các loại xe F1 động cơ tầm trung.

Tay đua F1 người Úc Jack Brabham

Tay đua F1 người Úc Jack Brabham

Nhà vô địch Thế giới người Anh đầu tiên là Mike Hawthorn, người lái một chiếc Ferrari giành được danh hiệu vào năm 1958. Tuy nhiên, khi Colin Chapman gia cuộc chơi với vai trò nhà thiết kế khung gầm và sau đó là người thành lập Team Lotus, Đội đua Blue Team của Anh bắt đầu thống trị các đường đua trong thập niên tiếp theo. Với Jim Clark, Jackie Stewart, John Surtees, Jack Brabham, Graham Hill, và Denny Hulme, các tay đua của đội Anh và Khối thịnh vượng chung Anh Quốc đã giành được mười hai chức vô địch thế giới từ năm 1962 đến 1973.

Vào năm 1962, Lotus giới thiệu chiếc xe hơi có miếng gầm khung bằng nhôm gắn liền với thân thay cho kiểu thiết kế dạng khung truyền thống. Cải tiến này đã được chứng minh là bước đột phá vĩ đại nhất về công nghệ kể từ khi những chiếc xe hơi động cơ tầm trung ra mắt. Vào năm 1968, Lotus sơn lại tất cả chiếc xe của đội sang màu gan của hãng Imperial Tobacco, từ đó giới thiệu hình thức tài trợ vào môn thể thao.

Lotus 25 (1962)

Lotus 25 (1962)

Lực ép xuống (Downforce) của động lực học dần dần trở nên quan trọng trong mẫu thiết kế xe kể từ khi có sự xuất hiện của cánh lướt gió đuôi vào cuối thập niên 1960. Vào cuối thập niên 1970, Lotus giới thiệu khí động lực học về hiệu ứng mặt đất cung cấp lực ép mặt đường khổng lồ và làm tăng đáng kể tốc độ khi bẻ cua (mặc dù khái niệm này trước đây đã được dùng trong Chaparral 2J của Jim Hall vào năm 1970). Các lực tác động lên xe lớn quá lớn (lên đến 5 lần trọng lượng xe) đến nỗi cần những lò xo siêu cứng để duy trì một khoảng sáng gầm xe cố định, khiến cho nhíp xe gần như cứng nguyên khối. Độ giảm xóc của thân xe và mặt đường lúc này phụ thuộc hoàn toàn vào bánh xe

Các quy định và kỹ thuật theo dòng thời gian

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, bên cạnh các quy định cho xe đua F1 chuyên dùng trong các giải Grand Prix còn có một loại khung xe rẻ tiền hơn gọi là voiturettes (xe con), cho phép có động cơ lắp tăng áp tăng áp đến 1.500 cc.

Dưới áp lực của hai đội Grand Prix của Đức, Mercedes-Benz và Auto Union, hai đội này không được sự đồng tình ở nước ngoài cả về chính trị lẫn về thể thao, nên vào cuối thập niên 1930 đã có những cố gắng để hủy bỏ những quy định thời bấy giờ và đưa các voiturettes trở thành xe hạng Grand Prix. Ngoài việc khả năng cạnh tranh của các hãng sản xuất Anh, Pháp và Ý được cải thiện rõ rệt, những đổi mới về an toàn cũng được nêu lên làm lý do cho việc thay đổi các quy định. Vì thế giải Grand Prix ở Tripoli (Libya) năm 1939 được tổ chức cho dòng xe voiturettes. Nhưng mặc dù vậy Mercedes-Benz đã đoạt giải một cách bất ngờ với một chiếc xe được chế tạo mới đặc biệt cho mục đích này.

Ngay sau chiến tranh, các xe đua voiturettes vẫn được chế tạo, đặc biệt là bởi Alfa Romeo. Cho nên Liên đoàn Ô tô Quốc tế (FIA) đã điều chỉnh lại các quy định dành cho các xe đua Grand Prix có hiệu lực từ năm 1947,từ đó được gọi là Formula 1 cho phép các động cơ lắp thêm tăng áp (supercharged engine) có dung tích đến 1.500 cc và động cơ hút khí (atmospheric engine) đến 4.500cc. Thêm vào đó Formula 2 được định nghĩa cho loại động cơ hút có dung tích đến 2.000 cc.

Các cuộc đua xe riêng lẻ cho giải Grand Prix được tổ chức theo các quy định này, loạt đua hay giải vô địch châu Âu như trước chiến tranh không còn nữa. Nhưng khi Liên đoàn Moto Quốc tế (Fédération Internationale de Motocyclisme – FIM) tổ chức giải vô địch thế giới vào năm 1949, FIA đáp trả bằng giải vô địch thế giới trong năm 1950. Cuộc đua xe đầu tiên của giải vô địch thế giới mới diễn ra vào ngày 13 tháng 5 năm 1950 ở Silverstone, nước Anh.

Để củng cố cho yêu cầu tự đưa ra là một giải vô địch thế giới mặc dù gần như chỉ có châu Âu tham dự, trong thời gian từ 1950 đến 1960 cuộc đua 500 dặm ở Indianapolis (Hoa Kỳ) đã được điểm tương tự như giải vô địch thế giới mặc dầu thi theo các quy định hoàn toàn khác.

Trong 2 năm đầu tiên xe Alfetta trang bị động cơ có tăng áp của Alfa Romeo, xe có nhiều điểm tương tự như các thiết kế trước chiến tranh, tiếp tục chiếm ưu thế. Tuy vậy cuối năm 1951 Alfa Romeo rút lui ra khỏi môn thể thao đua xe này sau hai thập niên đạt được nhiều thành tích. Vì chỉ còn có Ferrari, lãnh đạo của Alfa, là có khả năng thiết kế các loại xe đua F1 có thể cạnh tranh nên giải vô địch thế giới các năm 1952 và 1953 tạm thời được tổ chức cho loại xe F2 ít tốn kém hơn. Mặc dù vậy Ferrari vẫn chiếm ưu thế trong các năm này và đều đoạt giải với tay đua Alberto Ascari.

Năm 1954, ban hành quy định mới ít tốn kém hơn (F1 với động cơ hút đến 2.500 cc hay động cơ có tăng áp đến 750 cc, F2 đến 1.500 cc) ra đời, vì thế nhiều hãng xe trong đó có Mercedes quyết định lại tiếp tục tham dự đua.

Từ 1961 đến 1965 các quy định cũ dùng cho F2 trở thành F1 làm cho các đội nhỏ của Anh đang chiếm ưu thế giận dữ vì họ không tự chế tạo động cơ được. Porsche đã chế tạo xe cho F2, đạt được nhiều thành tích từ nhiều năm nên việc đi lên F1 trở nên gần gũi. Thế nhưng chiếc động cơ 4 xy lanh có nguồn gốc từ Volkswagen không thể cạnh tranh được. Khung xe kiểu 718 cũng quá nặng nề so với các đối thủ. Với kiểu 804 mới có động cơ 8 xy lanh Porsche chiến thắng duy nhất một lần ở giải vô địch thế giới tại Rouen (Pháp) năm 1962 bởi Dan Gurney.

Cuối mùa đua năm đó Porsche rút lui khỏi hạng F1 do tốn kém và do không sản xuất hằng loạt được.  Porsche tập trung vào sản xuất ô tô thể thao vốn là lĩnh vực mạnh của họ. Vì xe thể thao và ngay cả một số xe được sản xuất hằng loạt vào thời gian này có công suất lớn hơn cả loại gọi là cao nhất này nên vào năm 1966 các quy định lại được thay đổi bằng cách nâng gấp đôi dung tích xy lanh (3.000 cc cho động cơ hút, 1.500 cc cho động cơ có tăng áp).

Động cơ Repco tương đối đơn giản chiếm ưu thế trong hai năm đầu tiên của hạng 3L vì sau khi quy định thay đổi trong thời gian ngắn không có động cơ nào thích hợp. Ngay cả Ferrari cũng phải mang một động cơ xe đua thể thao nhỏ cùng với một thiết kế chưa hoàn thiện ra đường đua. BRM chồng hai động cơ 8 xy lanh lên thành một chiếc H16 và được gọi là “quái vật”. Maserati tái khởi động lại một động cơ V12 từ thời đại 2.500 cc của thập niên 1950. Các động cơ được tăng thêm thành khoảng 2L của Coventry-Climax đã qua thử thách vẫn tiếp tục giành chiến thắng. Thế nhưng công ty này không muốn đầu tư vào phát triển một động cơ 3L nên rút lui khỏi F1.

Trong những năm từ 1968 đến 1982 động cơ được bán tự do V8-DFV Cosworth của Ford chiếm ưu thế trong F1 vì nhiều đội với động cơ này và cùng với 12 người lái xe đã giật giải vô địch thế giới trong tổng cộng 155 cuộc đua. Ferrari đoạt giải một lần với chiếc V12 có công suất mạnh hơn một chút, BRM với chiếc V12 chiến thắng một vài lần.

Bắt đầu từ năm 1977 Renault đưa động cơ turbo vào F1 và chiến thắng lần đầu với động cơ này vào năm 1979. Cho đến năm 1982 các động cơ hút tiết kiệm chi phí phát triển hơn, tin cậy hơn, ít tốn kém hơn và dễ lái hơn vẫn tiếp tục nắm giữ ưu thế mặc dù có công suất nhỏ hơn ngày càng thấy rõ. Bắt đầu từ năm 1983 các động cơ turbo có công suất mạnh hơn cuối cùng cũng chiếm được ưu thế. Trong các vòng chạy thử đã có thể tạo công suất cao hơn 1.000 mã lực rất nhiều trong khoản thời gian ngắn và vì thế đẩy lùi các phiên bản xe động cơ hút xuống phần phía sau của đội hình đua.

Vụ tai nạn tại giải Italian Grand Prix 1978 - Ảnh: gforcef1.wordpress.com

Vụ tai nạn tại giải Italian Grand Prix 1978 – Ảnh: gforcef1.wordpress.com

Các động cơ Cosworth đã qua thử thách với khoản 500 mã lực sau đó được sử dụng trong Formula 3000, hạng đua thay thế Formula 2 với các động cơ đua 2.000 cc.

Chiếc xe đua mạnh nhất từ trước đến nay trong Công thức 1 là chiếc Benetton-BMW năm 1986 với 1.350 mã lực được điều khiển bởi tay đua người Áo Gerhard Berger, chiếm giải Grand Prix của México trong cùng năm. Sau đó Berger tường thuật lại là “chiếc ô tô này gần như không thể chạy được vì quá mạnh”. Tức là phải hết sức cực khổ mới có thể điều khiển được chiếc xe BMW này.

Bắt đầu từ năm 1989 các động cơ turbo bị cấm và chỉ còn cho phép các động cơ hút đến 3.500 cc (để phân biệt với F3000 với dung tích là 3.000 cc), được sử dụng trong các loại V8, V10, V12 và ngay cả cho W12. Renault giới thiệu bộ điều khiển van bằng khí nén thay thế các lò xo thép cho phép tăng vòng quay nhanh hơn 12.000 vòng/phút đang thông dụng cho đến thời điểm đó.

Sau mùa đua xe năm 1994, vì có nhiều tai nạn, dung tích được giảm xuống còn 3.000 cc, công suất giảm từ khoảng 750 xuống còn 650 mã lực.

Từ năm 1996 Ferrari thay V12 nặng và tốn nhiều nhiên liệu bằng loại V10 mà cùng với loại động cơ này Michael Schumacher đã chiến thắng được 3 cuộc đua. Ngay từ năm 1997 người ta đã đạt lại được công suất 750 mã lực bằng cách tăng tua máy nhanh hơn 17.000 vòng/phút.

Từ mùa đua xe 2005 các xe phải qua được hai tuần đua mà không phải thay thế để giảm phí và kiềm chế việc tăng công suất (hiện nay vào khoản 900 mã lực ở 19.000 vòng/phút).

Tóm tắt nhanh các quy định theo từng năm

NămSố liệu
1950-52Dung tích động cơ 4,5 L cho máy không nén và 1,5 L cho tăng áp, rút ngắn đường đua từ 500 km xuống còn 300 km hay ít nhất là 3 tiếng đồng hồ.
1952/53Đua theo các quy định dành cho Công thức 2.
1954-58Dung tích động cơ được quy định là 750 cc cho tăng áp và 2,5 L cho loại không có. Đường đua được quy định là 500 km hay 3 tiếng đồng hồ.
1958-60Xăng máy bay nguyên liệu bị cấm. Chỉ số octan được quy định từ 100 đến 139. Thời gian lái được giảm xuống còn 2 tiếng hay ít nhất là 300 km và nhiều nhất là 500 km.
1961Quy định dung tích động cơ là 1,5 L, loại có tăng áp bị cấm. Cấm không được nhẹ hơn trọng lượng tối thiểu là 450 kg. Hạn chế chỉ số octan còn 100, các bình xăng phải đáp ứng được các quy định về an toàn như trên máy bay.
1966Cho phép động cơ hút 3 L và động cơ turbo 1,5 L, trọng lượng tối thiểu là 500 kg.
1967Bắt buộc phải có dây an toàn và nhóm máu của người lái xe phải có trên bộ áo liền quần.
1968Mũ bảo hiểm đầu của Bell được áp dụng.
1969Cấm các bộ phận hỗ trợ khí động học, bộ truyền động 4 bánh của xe Lotus.
1970Bắt buộc phải có thiết bị chữa cháy trên xe.
1971Bánh xe không rãnh của Goodyear, động cơ turbo của Lotus.
1976Wing-car-concept của Lotus, xe 6 bánh của Tyrrell Racing.
1977Renault với động cơ turbo 1,5 L, Michelin với lốp có bố tỏa tròn, đưa vào sử dụng hệ thống đo từ xa (telemetry).
1981Cabin lái bằng sợi cacbon của McLaren và Lotus. Hệ thống giảm xóc điều khiển bằng máy tính của Lotus.
1984Cấm dừng đổ xăng, giới hạn xăng là 220 L.
1986Giới hạn xăng cho động cơ turbo là 195 L, Benetton-BMW là chiếc xe đua mạnh nhất với 1.359 mã lực.
1987Cho phép động cơ hút với dung tích 3,5 L, giới hạn chiều ngang lốp xe là 30,5 cm (12 inch) ở bánh trước và 57,72 cm (18 inch) ở bánh sau.
1988Giới hạn xăng còn 150 L và áp suất là 2,5 bar cho loại động cơ turbo.
1989Cấm động cơ turbo, Renault sử dụng van khí nén lần đầu tiên.
1992Cấm “xăng design” chỉ cho phép xăng gần bình thường (có chỉ số octan nhiều nhất là 102 và tối đa là 3,7% ôxy.
1993Giới hạn bề ngang lốp xe còn 29 cm ở phía trước và 29 cm cho phía sau.
1994Cấm các thiết bị hỗ trợ điện tử (ABS, thiết bị giảm xóc chủ động??), cho phép ngừng để đổ xăng.
1995Giới hạn dung tích xuống 3,0 L.
1998Cấm lốp không rãnh, đưa vào sử dụng loại lốp có rãnh (3 rãnh cho lốp trước, 4 rãnh cho lốp bánh sau).
1999Thống nhất 4 rãnh cho lốp trước và sau.
2004Không được thay động cơ suốt một chặng tuần đua.
2005Không cho phép thay lốp, động cơ phải hoạt động được trong 2 tuần đua.
2006Động cơ 8 L V8 thay vì V10 3 L, cũng phải chạy được 2 tuần đua (không được phép thay thế) nhằm giảm động cơ hiện đang vào khoản 900 mã lực xuống còn 700 mã lực.
2007Tất cả các đội đua chỉ sử dụng lốp của một hãng – Bridgestone. Quãng đường chạy thử tối đa của một đội là 30.000 km một năm; Thời gian lái tập trước cuộc đua phân hạng là 90 phút (trước là 60 phút).
2011Double diffuser và F-Duct sẽ bị cấm dùng. Bridgestone ra đi nhường chỗ cho Pirelli. Cánh gió sau điều chỉnh được. KERS là thứ được phép trang bị nhưng không bắt buộc. Tất cả các xe tham gia Q1 nếu có thời gian vòng nhanh nhất của mình “lớn hơn 107% so với vòng nhanh nhất của Q1 xác lập” đều bị loại khỏi cuộc đua vào ngày đua chính thức. Tăng trọng lượng tối thiểu của chiếc xe lên mức 640 kg.
2014Động cơ Turbo V6 thế chỗ 8L V8

Về Kinh tế

Các cuộc thi thể thao của Công thức 1 được tiến hành bởi Formula One Management. Sở hữu công ty này là Slec Holdings, giám đốc Bernie Ecclestone hiện sở hữu khoản 25% cổ phần công ty. Ngoài ra các ngân hàng sau đây đều có đầu tư vào Slec Holdings: BayernLB, Lehman Brothers và J. P. Morgan Chase. Các đội đua xe Công thức 1 chỉ có một phần của công ty với quyền phủ quyết. FIA sở hữu các quyền về quảng cáo và truyền hình của các cuộc thi Công thức 1.

Quy định & Cờ hiệu

Quy chuẩn cờ hiệu trong Grand Prix

Cờ hiệuÝ nghĩa
 Ca rô trắng-đenCuộc đua đã kết thúc khi có xe cán đích.
 ĐỏCuộc đua bị tạm dừng. Các xe phải chạy chậm về vị trí xuất phát. Nếu phất cờ đỏ lần thứ hai thì cuộc đua kết thúc
 Xanh nước biển, được để nguyênBáo hiệu có một xe thật nhanh đang đến gần từ phía sau.
 Xanh nước biển, được vẫyPhải cho chiếc xe đó qua mặt.
 VàngCẩn thận có nguy hiểm! Các xe phải chạy chậm và cấm qua mặt.
 Xanh lá câyHết nguy hiểm, chấm dứt việc cấm qua mặt.
 TrắngCẩn thận, trên đường đua có xe chạy chậm.
 Vạch thẳng đứng đỏ và vàngĐường trơn trợt (có vết dầu, nước mưa…).
 Đen với vòng tròn camCảnh báo một xe là xe đang có trục trặc kỹ thuật phải vào pit ngay tức khắc.
 Tam giác trắng và đenXe bị cảnh cáo vì có thái độ không có tinh thần thể thao.
 ĐenXe bị loại khỏi cuộc đua và phải trở về pit ngay tức khắc.

Các hình thức phạt

  • Xe phải chạy một lần qua pit mà không cần phải ngừng.
  • Phạt Stop-and-Go: xe phải chạy qua pit, ngừng 10 giây trước khi được tiếp tục, trong khi ngừng xe không được quyền bảo trì.
  • Qua 3 lần cảnh cáo của hội đồng đua người lái sẽ bị cấm không cho tham dự một cuộc đua. Vị trí tại cuộc đua tới sẽ bị tuột xuống 10 vị trí.
  • Cờ đen: người lái tự động bị loại khỏi cuộc đua.

Nếu hình phạt qua 3 vòng vẫn chưa được thực hiện thì xe sẽ bị loại. Nếu hình phạt được đưa ra trong 5 vòng cuối cùng, hay ngay sau khi chấm dứt cuộc đua, thì thời gian lái sẽ bị cộng thêm 25 giây, không cần thiết phải chạy qua pit nữa.

Nhiều khi một người lái, hay một đội, có thể bị cấm tham dự vài cuộc đua. Số lần nhiều hay ít tùy thuộc vào sự vi phạm quy luật của người lái, hay đội, đó.

Nếu bạn yêu thích nội dung này & cần sử dụng trên website của bạn,

Vui lòng xem thông tin [HỖ TRỢ] & ghi rõ nguồn XEtv.vn

Tin đang được quan tâm